Tóm tắt: Luật Đầu tư (sửa đổi) được Quốc hội thông qua sáng ngày 11/12/2025 với những thay đổi căn bản, đột phá về quy trình, thủ tục đầu tư, đặc biệt về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thủ tục với nhà đầu tư nước ngoài, quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài. Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/03/2026. Riêng nội dung Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026. Khoản 3 Điều 50 của Luật này có hiệu lực ngay từ 1/1/2026 (đối với các dự án đường sắt, nhà đầu tư có thể xin kéo dài thời gian thực hiện dự án. Nếu không xin kéo dài, thì khi dự án kết thúc, nhà đầu tư bàn giao toàn bộ tài sản cho Nhà nước, và Nhà nước sẽ trả tiền cho nhà đầu tư theo quy định).
Bài viết này sẽ điểm lược những nội dung sửa đổi nổi bật của Luật Đầu tư năm 2025, tập trung vào các thay đổi mang tính định hướng chính sách và tác động thực tiễn đáng lưu ý đối với nhà đầu tư trong và ngoài nước.
1. Cách tiếp cận “luật khung”, tăng tính linh hoạt và ổn định cho môi trường đầu tư
Một trong những thay đổi xuyên suốt và có tác động lớn nhất là cách tiếp cận xây dựng quy định theo hướng chung, nguyên tắc, thay vì quy định chi tiết, cứng nhắc như trước đây. Theo đó, Luật Đầu tư sửa đổi đã giảm đáng kể các quy định mang tính thủ tục, hồ sơ cụ thể trong luật, thay vào đó là việc dẫn chiếu trực tiếp đến các Nghị định của Chính phủ để hướng dẫn chi tiết thi hành. Chẳng hạn như các điều khoản về hồ sơ, quy trình, thủ tục ra Quyết định chủ trương đầu tư (Điều 22), cấp Giấy chứng nhận Đăng ký đầu tư (Điều 25), hay thủ tục điều chỉnh dự án tại Điều 26 đều được bãi bỏ tại Luật mới, và thay thế bằng cách giao quyền cho Chính phủ và cơ quan chuyên ngành ban hành hướng dẫn.
Ngoài ra, Luật mới cũng thu hẹp việc liệt kê ưu đãi, mà tập trung vào mục tiêu và định hướng ngành nghề theo hướng:
- Nhấn mạnh mục tiêu phát triển của ngành, lĩnh vực;
- Gắn ưu đãi với định hướng chiến lược, như: đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, vùng khó khăn;
- Trao quyền cho Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí và mức ưu đãi tương ứng theo từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.
Điều này cho thấy sự dịch chuyển từ tư duy quản lý bằng thủ tục sang quản lý bằng mục tiêu và nguyên tắc, giúp giảm nguy cơ “lỗi thời” của luật khi thủ tục hành chính thay đổi; đồng thời tăng tính linh hoạt và thống nhất trong hoạt động quản lý điều hành và điều chỉnh chính sách đầu tư phù hợp với bối cảnh phát triển của Việt Nam.
2. Giảm thủ tục hành chính, thúc đẩy hoạt động đầu tư trong và ngoài nước
2.1. Thu hẹp thẩm quyền của Quốc hội và giảm số lượng dự án phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư
Luật sửa đổi đã tái cấu trúc hệ thống quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư, theo hướng làm rõ phạm vi dự án chấp thuận chủ trương đầu tư và chỉ giữ lại cơ chế kiểm soát đối với các dự án thực sự quan trọng, nhạy cảm như cảng biển, sân bay, viễn thông, xuất bản báo chí, các dự án thực hiện tại khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
Theo quy định mới, không còn dự án nào phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, ngoại trừ duy nhất đối với các dự án được triển khai theo cơ chế đặc biệt và không được quy định trực tiếp trong Luật, Nghị quyết của Quốc hội. Các dự án trước đây thuộc thẩm quyền của Quốc hội nay được chuyển giao cho Chính phủ xem xét, chấp thuận, trong khi các dự án còn lại được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế (nếu dự án được thực hiện trong các khu vực này).
Đáng chú ý, Luật sửa đổi đã loại trừ ba trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 24 khỏi diện phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư, qua đó giảm thêm gánh nặng thủ tục cho nhà đầu tư trong thực tiễn triển khai dự án, bao gồm:
- Dự án đầu tư của cá nhân không thuộc diện phải có văn bản chấp thuận của UBND tỉnh trước khi được quyết định cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng;
- Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp;
- Dự án khai thác khoáng sản thuộc diện đấu giá quyền khai thác khoáng sản; dự án khai thác khoáng sản để phục vụ cho các dự án, công trình, hạng mục công trình, thực hiện các biện pháp huy động khẩn cấp theo quy định của Luật Địa chất và khoáng sản.
2.2. Đơn giản hóa thủ tục đầu tư ra nước ngoài
Luật mới đơn giản hóa thủ tục đầu tư ra nước ngoài, trong đó bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài và thu hẹp diện dự án phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Theo quy định mới, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài cơ bản được bãi bỏ, ngoại trừ trường hợp dự án có quy mô lớn và theo cơ chế đặc biệt, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi cấp, điều chỉnh GCN Đăng ký ĐTRNN.
Về đăng ký đầu tư, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với:
- Các dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài đạt ngưỡng theo quy định của Chính phủ (hiện chưa ban hành); hoặc
- Các dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện như ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, báo chí;
Đồng thời, loại trừ 03 trường hợp không cần xin cấp GCN đăng ký ĐTRNN, mà chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo pháp luật về quản lý ngoại hối, gồm:
- Dự án đầu tư ra nước ngoài không thuộc trường hợp phải đăng ký đầu tư như trên;
- Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh, được triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư;
- Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của Chính phủ.
Những thay đổi này nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính chủ động của nhà đầu tư.
3. Chính sách khuyến khích đầu tư tập trung vào các ngành nghề trọng điểm
Song song với việc cắt giảm thủ tục hành chính, Luật Đầu tư sửa đổi năm 2025 tiếp tục hoàn thiện khung chính sách ưu đãi đầu tư, nhưng theo cách tiếp cận chọn lọc hơn, tập trung nguồn lực nhà nước vào các ngành, lĩnh vực có vai trò dẫn dắt tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển kinh tế như công nghệ cao, tài chính số, phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo…
3.1. Hình thành Quỹ hỗ trợ đầu tư:
Quỹ này được định vị là công cụ tài chính nhằm: (i) Hỗ trợ các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu tiên; (ii) Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ cao; (iii) Tạo cơ chế hỗ trợ linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh ưu đãi đầu tư ngày càng gia tăng.
Cơ chế hình thành và hoạt động của Quỹ sẽ do Chính phủ quy định, nhưng nguyên tắc sẽ dựa trên ngân sách quốc gia và giao cho đơn vị tín dụng thứ ba quản lý.
3.2. Cơ chế thủ tục đầu tư đặc biệt (“luồng xanh”) đối với dự án trọng điểm
Luật cũng mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt (luồng xanh) – Điều 28 – để cho phép các dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do và khu chức năng trong khu kinh tế… không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết, cấp Giấy phép xây dựng và các thủ tục để được phê duyệt, chấp thuận, cho phép trong lĩnh vực xây dựng, phòng cháy, chữa cháy. Theo đó, Nhà đầu tư chỉ cần thực hiện thủ tục xin cấp GCN đăng ký đầu tư và cam kết đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật về xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy. Tuy nhiên, trước khi khởi công xây dựng, Nhà đầu tư cần nộp cho Bản quản lý KCN và cơ quan quản lý trật tự xây dựng địa phương: (i) Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư và (ii) Báo cáo kết quả thẩm tra Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư.
3.3. Mở rộng chính sách ưu đãi đầu tư cho các dự án trọng điểm
Bổ sung khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế là địa bàn ưu đãi đầu tư (Điều 15.2)
Điều 18 ghi nhận chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao, có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến phát triển kinh tế – xã hội bao gồm:
- Dự án đầu tư thành lập mới các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng trung tâm dữ liệu lớn, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng di động từ 5G trở lên và hạ tầng số khác trong lĩnh vực công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ; trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số có quy mô vốn đầu tư và thời hạn giải ngân vốn đầu tư theo quy định của Chính phủ;
Ngoài ra, Luật sửa đổi cho phép Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng cơ chế ưu đãi và chấp thuận đối với các dự án đặc biệt quan trọng, không phải xin ý kiến Quốc hội.
4. Nâng cao hiệu quả thực hiện và quản lý dự án đầu tư
– Ngành nghề kinh doanh:
- Cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như: Kinh doanh làm thủ tục về thuế; kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan; dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; kinh doanh dịch vụ cho thuê lại lao động, kinh doanh dịch vụ giám định thương mại; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh; kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa đã qua sử dụng (Phụ lục IV). Điều 7 Luật Đầu tư 2025 cũng quy định Chính phủ công bố danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động và danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý theo phương thức hậu kiểm.
- Bổ sung ba ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, bao gồm: (i) Kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia; (ii) Kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật; (iii) Kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
– Tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn gia nhập thị trường: Cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhằm mục đích giúp môi trường đầu tư kinh doanh trở nên thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thu hút đầu tư, đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện thủ tục này.
– Trong giai đoạn thực hiện Dự án
- Cho phép thay đổi thời hạn thực hiện dự án trong quá trình triển khai, mà không phải chờ đến thời điểm gần hết thời hạn như trước đây.
- Bãi bỏ hai trường hợp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư, bao gồm: (i) Trường hợp điều chỉnh vốn đầu tư với mức tăng, giảm trên 20%; (ii) Trường hợp thay đổi công nghệ đã được thẩm định.
– Ngừng, chấm dứt Dự án: Việc thực hiện dự án không đúng tiến độ ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư không mặc nhiên bị coi là căn cứ để ngừng hoạt động dự án. Tuy nhiên, trường hợp dự án chậm tiến độ tổng thể, sau 24 tháng vẫn không đạt được mục tiêu đầu tư, thì có thể bị chấm dứt hoạt động theo quy định.
5. Đánh giá tác động và kiến nghị chuyển đổi
5.1. Đánh giá tác động đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp
Những điều chỉnh trong Luật Đầu tư sửa đổi năm 2025 cho thấy xu hướng nhất quán của Nhà nước trong việc tái cấu trúc khung pháp lý về đầu tư theo hướng thông thoáng hơn nhưng có chọn lọc, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý đối với các dự án và lĩnh vực then chốt.
- Việc cắt giảm thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư và đơn giản hóa thủ tục đầu tư giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị và triển khai dự án, qua đó giảm chi phí tuân thủ pháp luật và nâng cao tính dự đoán trong hoạt động đầu tư. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các dự án sản xuất – kinh doanh quy mô vừa và lớn, cũng như các dự án có yếu tố nước ngoài.
- Các cơ chế ưu đãi có trọng tâm, như Quỹ hỗ trợ đầu tư, thủ tục đầu tư đặc biệt (“luồng xanh”) và ưu đãi đầu tư đặc biệt, tạo ra lợi thế rõ rệt cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính, thương mại tự do và các dự án chiến lược. Tuy nhiên, cách tiếp cận chọn lọc này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nhà đầu tư về năng lực thực hiện, cam kết dài hạn và hiệu quả dự án trên thực tế.
- Việc linh hoạt hóa cơ chế điều chỉnh, gia hạn và chấm dứt dự án, cùng với cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, giúp môi trường đầu tư – kinh doanh trở nên minh bạch và thực chất hơn.
Tuy nhiên, cách tiếp cận mới theo hướng “luật khung” và phân cấp mạnh mẽ cũng đặt ra một số hạn chế và thách thức trong quá trình áp dụng trên thực tế.
- Việc dẫn chiếu nhiều nội dung quan trọng sang nghị định và văn bản hướng dẫn có thể tạo ra khoảng trống pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp, đặc biệt khi các nghị định chưa được ban hành kịp thời hoặc chưa bảo đảm tính thống nhất. Trong ngắn hạn, điều này có thể làm gia tăng sự thận trọng của nhà đầu tư và gây lúng túng cho cơ quan thực thi ở địa phương.
- Cơ chế phân cấp sâu cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý tuy giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các địa phương
- Việc chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm đối với nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã và đang làm gia tăng gánh nặng quản lý, giám sát của Nhà nước, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ làm giảm hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm, đặc biệt trong bối cảnh cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành chưa thực sự nhịp nhàng.
5.2. Kiến nghị hướng chuyển đổi và thích ứng cho doanh nghiệp
Trước những thay đổi nêu trên, các nhà đầu tư và doanh nghiệp được khuyến nghị cân nhắc một số định hướng chuyển đổi sau:
- Chủ động theo dõi và cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các nghị định, thông tư và văn bản chỉ đạo của Chính phủ được ban hành sau khi Luật Đầu tư sửa đổi có hiệu lực; đồng thời bám sát định hướng xây dựng và điều chỉnh chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn, nhằm kịp thời rà soát, điều chỉnh chiến lược đầu tư, mô hình kinh doanh và cấu trúc dự án cho phù hợp với khung pháp lý mới, hạn chế rủi ro phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp.
- Tận dụng các cơ chế ưu đãi và thủ tục đặc biệt, đặc biệt là cơ chế “luồng xanh” và các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, thông việc lựa chọn địa điểm đầu tư; chuẩn bị kỹ hồ sơ năng lực, phương án triển khai và cam kết thực hiện dự án ngay từ giai đoạn đầu.
- Chủ động điều chỉnh tiến độ và nội dung dự án trong quá trình thực hiện, thay vì chờ đến giai đoạn cuối, nhằm giảm rủi ro pháp lý liên quan đến chậm tiến độ tổng thể và nguy cơ chấm dứt dự án.
- Đối với doanh nghiệp có hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cần đánh giá lại cấu trúc đầu tư và dòng vốn để tận dụng việc cắt giảm thủ tục chấp thuận, đồng thời bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định về quản lý ngoại hối và điều kiện đầu tư ra nước ngoài theo pháp luật mới.
- Chuẩn bị cho cơ chế hậu kiểm, khi nhiều ngành, nghề chuyển từ tiền kiểm sang quản lý sau cấp phép, thông qua việc hoàn thiện hệ thống tuân thủ nội bộ, quản trị rủi ro và lưu trữ hồ sơ pháp lý đầy đủ.
———————————
By Trang Linh – Cộng Sự, Midland & Partners


